
(Asclepiadaceae), họ cây leo, một số cây bụi hoặc cây gỗ, cây thảo. Lá mọc đối, đôi khi mọc cách hoặc mọc vòng; lá đơn nguyên, thường không có lá kèm. Hoa nhỏ, tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi mọc đơn. Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5, tràng hợp hình ống. Quả khô. Có 290 chi, 2.000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chỉ vài loài ở ôn đới. Nam Phi là trung tâm của nhiều loài, nhiều cây dạng mọng nước thuộc họ Thiên lí. Ở Nam châu Á có chi Dischidia với 50 loài bì sinh: cây tai chuột (D. acuminata) làm thuốc chữa bệnh lậu. Ở Việt Nam hiện biết 40 chi, 100 loài. Có một số loài làm thuốc như: bồng bồng (Callotropis gigantea) lấy lá chữa hen, vỏ rễ chữa bệnh phong, giang mai; hoa lí (Telosma cordatum = Pergularia minor) được trồng rộng rãi ở Miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá non nấu canh ăn mát và bổ; hà thủ ô trắng (Tylophora juventas) làm thuốc bổ, chữa cảm sốt. Xt. Hoa lí.
khái niệm trong triết học Trung Hoa cổ đại. Xuất hiện đầu tiên trong các tác phẩm của Trang Tử (Zhuangzi) và Hàn Phi Tử (Han Feizi), có nghĩa là phép tắc của tự nhiên. Thời Tống (Song), Trình Di (Cheng Yi) nói: "Cái không làm mà làm, cái không đến mà đến, gọi là thiên lí". Chu Hy (Chu Xi) thì lại cho cương thường là TL "Thiên lí chỉ là tên gọi chung của nhân, nghĩa, lễ, tế. Nhân, nghĩa, lễ, tế là các con số của thiên lí" (Chiểu ngữ loại). Vương Thủ Nhân (Wang Shouren) đời Minh (Ming) thì chỉ ra "Lương tri tức là thiên lí". Dù là Trình - Chu học phái hay Lục - Vương học phái, các phái thường đều cho TL là nguyên tắc cao nhất, mãi mãi không thay đổi của chính thể phong kiến chuyên chế. Họ đều cho điều trái với TL là "nhân dục", và đều chú trọng "giữ gìn thiên lí, tiêu diệt nhân dục".